I. KHÁI QUÁT TIỂU SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA GIÁO SƯ, VIỆN SĨ TRẦN ĐẠI NGHĨA
Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa tên khai sinh là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913, trong một gia đình giáo viên nghèo tại làng Chánh Hiệp, quận Tam Bình (nay là xã Hòa Hiệp, tỉnh Vĩnh Long). Mồ côi cha khi mới lên bảy tuổi, trong hoàn cảnh khó khăn, với tư chất thông minh, giàu nghị lực, ông luôn cố gắng vươn lên và đạt kết quả học tập xuất sắc trong mọi bậc học.
Năm 1926, ông thi đỗ hạng ưu vào Trường Trung học Mỹ Tho (Collège de Mỹ Tho), được nhận học bổng 04 năm học.
Năm 1930, ông được tuyển thẳng vào Trường Trung học Pétrus Ký Sài Gòn (nay là trường THPT chuyên Lê Hồng Phong) được học bổng 03 năm liền.
Năm 1933, ông đỗ thủ khoa tú tài bản xứ và tú tài Tây. Đến tháng 9/1935 ông sang Pháp du học. Tháng 6/1936, ông thi đậu vào Trường Đại học quốc gia Cầu đường Paris ở Pháp.
Trong thời gian này, ông vừa học Trường Đại học quốc gia Cầu đường Paris, vừa học Đại học Xoócbon (Sorbonne), Học viện Kỹ thuật Hàng không, Trường Đại học Điện, đồng thời ông thi lấy chứng chỉ ở Trường Đại học Bách khoa, Trường Đại học Mỏ. Ngoài ra, ông còn tự tìm tòi, nghiên cứu những vấn đề về chế tạo và sử dụng thuốc nổ, về thiết kế chế tạo vũ khí.
Đến năm 1946, sau 11 năm học tập, nghiên cứu, ông đã ghi chép được hơn 30.000 trang tài liệu về vũ khí, thuốc nổ hầu hết là các tài liệu mật.
Ngày 05/7/1946, cùng với những Việt kiều tại Pháp, ông đến sân bay Lơ Buốcgiê (Le Beurget) ở thủ đô Paris chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nước Pháp theo lời mời của chính phủ Pháp.
Từ tháng 7/1946 đến tháng 9/1946, ông có dịp được gặp và làm việc với Bác Hồ và đã báo cáo với Bác về tất cả những điều mình biết về chiến tranh thế giới lần thứ 2, cũng như quá trình làm việc, học tập, nghiên cứu của bản thân trong những năm tháng du học, làm việc tại Châu Âu.
Ngày 08/9/1946, Bác Hồ gọi Phạm Quang Lễ đến và cho biết Hội nghị Phông-ten-nơ-blô (Fontainebleau) không thành công, Bác đã kêu gọi ông về nước để phục vụ kháng chiến. Ông đã không ngần ngại, từ bỏ cuộc sống sung túc, đầy đủ ở Pháp, sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn, gian khổ để trở về quê hương.
Đến ngày 20/10/1946, chiến hạm Đuymông Đuyếcvin đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông và các trí thức khác như: bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Võ Quí Huân, kỹ sư Vũ Đình Huỳnh,… cập bến Hải Phòng, bắt đầu tham gia công cuộc kháng chiến kiến quốc của dân tộc.
Sau khi về nước, ngày 05/12/1946, Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho ông nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân giới. Đồng thời, ông đã vinh dự được Bác Hồ đặt tên mới là Trần Đại Nghĩa để giữ bí mật cho ông và để bảo vệ cho gia đình, bà con còn ở trong Nam.
Cuối tháng 02/1947, dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của ông, các cán bộ, chiến sĩ quân giới đã sản xuất thành công súng Bazooka và nhiều loại vũ khí hạng nặng phục vụ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đầu năm 1948, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành 11 vị tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam .
Vào năm 1949, Trần Đại Nghĩa được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương không qua thời gian thử thách.
Tháng 6/1950 ông là Thứ trưởng Bộ Công thương.
Không chỉ có những đóng góp quan trọng trong ngành quân giới, ông còn có những cống hiến lớn trong việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ tháng 3/1949 đến tháng 6/1952, ông được giao thêm nhiệm vụ là Cục trưởng Cục Pháo binh và đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng lực lượng pháo binh để tham gia các chiến dịch lớn. Năm 1952, ông là một trong những người đầu tiên được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được giao nhiệm vụ phụ trách công tác ngoài quân đội, lần lượt giữ các chức vụ như: Thứ trưởng Bộ Công nghiệp (1954); Thứ trưởng Bộ Công nghiệp kiêm Hiệu trưởng Trường Đại học chuyên nghiệp Bách Khoa (nay là Trường Đại học Bách khoa Hà Nội năm 1956); Thứ Trưởng Bộ Công nghiệp nặng (1960); Phó Chủ nhiệm Ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước (1963); Chủ nhiệm Ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (1965); Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (1966).
Đầu năm 1966, theo sự chỉ đạo của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trần Đại Nghĩa trở lại phục vụ quân đội, đảm nhận chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, phụ trách theo dõi, chỉ đạo về kỹ thuật vũ khí quốc phòng, đồng thời tiếp tục làm Chủ nhiệm Ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước và Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông được Đảng và Nhà nước phân công kiêm chức Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1983. Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (nhiệm kỳ 1983 - 1988).
Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa nhiều lần được Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Quốc phòng tuyên dương thành tích và tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba; Huân chương Hồ chí Minh và Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.
Sau những năm tháng cống hiến cho đất nước, Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa về miền Nam sinh sống tại Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông qua đời vào ngày 09/8/1997, hưởng thọ 85 tuổi.
II. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA GIÁO SƯ, VIỆN SĨ TRẦN ĐẠI NGHĨA CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
1.1. Chế tạo súng Ba-dô-ca (Bazooka)
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tình hình nước ta ngày càng trở nên căng thẳng bởi các thế lực đế quốc, phản động luôn tìm cách bóp chết chính quyền non trẻ vừa mới thành lập.
Ngày 23/9/1945, quân Pháp đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Chiến tranh đã nhanh chóng lan ra khắp miền Nam rồi ra miền Bắc nước ta.
Ngày 16/12/1946, chỉ huy quân đội Pháp ở miền Bắc Đông Dương, tướng Mooc-li-e đã liên tiếp gửi hai bức tối hậu thư cho Chính phủ ta đòi tước vũ khí của quân đội, dân quân tự vệ của ta và tuyên bố: “Quân Pháp sẽ tự mình đảm nhận trị an tại Hà Nội, chậm nhất là vào sáng ngày 20/12/1946”.
Trước tình hình vô cùng khẩn cấp và dự đoán chắc chắn quân Pháp sẽ nổ súng, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Tình hình, tương quan lực lượng của ta và địch lúc bấy giờ cũng xấp xỉ nhau. Tuy nhiên, trang bị vũ khí, khí tài thì ta kém xa so với quân địch, quân đội ta hiện chỉ có bộ binh, vũ khí trang bị sơ sài, chỉ khoảng một phần ba có súng với rất ít đạn. Do đó, vấn đề sản xuất vũ khí là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ ta lúc này khi phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ và không có sự viện trợ từ bên ngoài.
Trong Hội nghị quân sự được tổ chức đầu năm 1947 tại Trúc Sơn (huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông), kỹ sư Trần Đại Nghĩa lúc này vừa được Bác Hồ giao nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân giới đã có bài phát biểu nói lên quyết tâm và niềm tin của cán bộ, công nhân ngành quân giới trong việc tự sản xuất vũ khí hiện đại cung cấp cho quân đội.
Thực hiện nghiêm túc lời căn dặn của Bác Hồ, cống hiến hết mình cho lý tưởng cao đẹp mà ông đã theo đuổi từ khi còn tuổi thanh xuân, ông đã cùng các cộng sự nghiên cứu chế tạo thành công nhiều loại vũ khí cung cấp cho bộ đội, dân quân, du kích chiến đấu. Ông đã nghiên cứu kỹ đặc điểm, yêu cầu của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam, đề ra phương châm tận dụng nguyên liệu sẵn có trong nước để chế tạo các loại vũ khí phù hợp với chiến trường Việt Nam, mang lại hiệu quả chiến đấu cao.
Cuối tháng 02/1947, tại Xưởng Quân giới Giang Tiên, dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của ông, các cán bộ, chiến sĩ quân giới đã sản xuất thành công súng Ba-dô-ca (Bazooka) với sức mạnh xuyên thủng 75cm tường thành gạch xây, tương đương với sức nổ của đạn Ba-dô-ca do Mỹ chế tạo. Súng Ba-dô-ca do Việt Nam chế tạo có ưu điểm là nhẹ, có thể vác trên vai, bắn không giật, có sức công phá lớn, giúp bộ đội tăng cường sức mạnh hỏa lực, tiêu diệt nhiều xe tăng, đồn bốt kiên cố của địch. Tại trận chiến diễn ra ngày 03/3/1947 tại Sơn Lộ, Quốc Oai (Hà Nội), đạn Ba-dô-ca vừa xuất xưởng đã được sử dụng bắn cháy 02 xe tăng của Pháp, làm cho kẻ thù sửng sốt và là mốc son của ngành quân giới Việt Nam.
Sau khi chuyển lên Việt Bắc, ông cùng với các nhà khoa học trẻ của Cục quân giới tiếp tục nghiên cứu, sản xuất hàng loạt súng Ba-dô-ca và cải tiến tính năng, tác dụng của loại súng này ngày càng tốt hơn, đáp ứng yêu cầu trong chiến đấu. Trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947, súng Ba-dô-ca được sử dụng bắn chìm tàu chiến Pháp trên sông Lô. Việc chế tạo thành công súng Ba-dô-ca và hiệu quả sát thương của nó đã gây cho địch những thiệt hại nặng nề trên các chiến trường.
1.2. Sản xuất vũ khí hạng nặng
Vào cuối năm 1948, đầu năm 1949, chiến sự diễn ra ngày càng ác liệt, đòi hỏi phải có thêm vũ khí khác ngoài súng Bazooka để phục vụ chiến đấu. Trước tình hình đó, ta chuyển sang nghiên cứu sản xuất các loại súng cối hạng nặng trong đó có súng không giật SKZ.
Loại vũ khí tiêu biểu thứ hai mà ông cùng cộng sự nghiên cứu, chế tạo thành công là súng không giật SKZ 50mm, đầu đạn cỡ 160mm. Trước tình hình bộ đội ta bị thương vong nhiều khi dùng bộc phá cỡ lớn, hoặc mìn lõm cỡ lớn để đánh địch cố thủ trong các lô-cốt bê tông cốt thép, ông nghĩ đến việc chế tạo một loại súng nhẹ, có thể vận chuyển dễ dàng trên đôi vai bộ đội, nhưng lại có sức công phá lớn.
Ông cùng những cộng sự gần gũi như: Nguyễn Trinh Tiếp, Hoàng Đình Phu, Bùi Minh Tiêu, Phạm Đồng Điện, Nguyễn Văn Hường,… đã tự nghiên cứu, chế tạo súng không giật SKZ có tính năng tương tự như súng không giật của Mỹ. Súng không giật SKZ sau khi được sản xuất đã phát huy tác dụng trong các trận chiến đấu công đồn, diệt lô-cốt địch, đặc biệt là các trận Phố Lu (Lào Cai), Chùa Dầu (Ninh Bình), Kông Plông (Khu V),… gây cho địch những thiệt hại nặng nề.
Sau này, dưới sự chỉ đạo của ông, các cơ sở quân giới tiếp tục nghiên cứu, chế tạo thành công các loại súng không giật SKZ cỡ 81mm, 120mm và 175mm. Bên cạnh đó, ông còn cùng các cộng sự cải tiến, chế tạo thành công nhiều loại súng cối. Riêng súng cối 120mm là loại vũ khí tầm xa, có tính năng bắn cầu vồng và bắn thẳng, đã phát huy tác dụng to lớn trong các trận phục kích trên sông của bộ đội.
Loại vũ khí tiêu biểu thứ ba mà ông cùng các cộng sự nghiên cứu, sáng chế thành công là đạn bay, trong đó có loại nặng 30kg có thể đánh phá các mục tiêu ở cách xa 4km. Đạn chống tăng AT, chuyên dùng để bắn xe bọc thép, xe ô tô của địch; đạn súng cối 40mm theo kiểu Nhật và loại súng cối cỡ 50,8mm theo kiểu của Anh. Ngoài ra còn có các loại súng lớn, súng phóng bom, các loại mìn nổ chậm,…
Khắc phục hoàn cảnh khó khăn của đất nước, bên cạnh việc nghiên cứu chế tạo các loại vũ khí có sức công phá lớn, ông còn chỉ đạo cán bộ quân giới giúp các địa phương tự chế tạo các loại vũ khí thông thường. Với phương châm “tận dụng nguyên liệu sẵn có”, cán bộ, công nhân quân giới đã giúp các địa phương sản xuất các loại lựu đạn bằng gang, bằng sành, các loại mìn,… một mặt, ông cho vẽ các mẫu lựu đạn, mìn gửi cho các địa phương, mặt khác mở các lớp bồi dưỡng kỹ thuật, đào tạo công nhân, hướng dẫn cách sản xuất, cách tháo gỡ bom nổ chậm, tháo đạn đại bác của địch để lấy thuốc nổ làm nguyên liệu chế tạo mìn, lựu đạn, thủy lôi,… Từ đó, số lượng vũ khí của lực lượng vũ trang được tăng lên, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch. Cục Quân giới, đứng đầu là Cục trưởng Trần Đại Nghĩa đã góp phần không nhỏ vào việc thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân và phương châm “tự cấp, tự túc” vũ khí đánh giặc.
2. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), hoà bình được lập lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Trần Đại Nghĩa được Chính phủ cho chuyển ngành, phụ trách công tác ngoài quân đội. Đến năm 1966, ông trở lại phục vụ trong quân đội đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, chuyên trách theo dõi, chỉ đạo về mặt vũ khí quốc phòng, đồng thời vẫn giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban khoa học và Kỹ thuật Nhà nước.
Từ đầu 1966, ta có đội ngũ cán bộ quân giới tương đối sau 20 năm xây dựng, và được các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ về vũ khí hiện đại. Nhưng kẻ thù của ta lúc này là đế quốc Mỹ có tiềm lực quân sự vũ khí hơn Pháp nhiều lần và đứng đầu thế giới. Tình hình chiến trường, chiến lược, chiến thuật của ta có nhiều điểm khác với các nước, nên ngoài việc nhận vũ khí viện trợ, ta phải tự nghiên cứu sản xuất, cải tiến vũ khí mới cho phù hợp với tình hình thực tế.
Các loại vũ khí, khí tài mới mà đế quốc Mỹ dùng ở Việt Nam gồm rất nhiều loại như: bom bi, bom laser, bom từ trường, cây nhiệt đới, tia hồng ngoại, máy đếm, máy nhiễu thông tin, lựu đạn có ngòi nổ vi điện tử, đạn vi điện tử, mìn lá… nhiều loại máy bay, trong đó có pháo đài bay chiến lược B52 .
Từ ngày 08/12/1972, Mỹ sử dụng B52 đánh phá miền Bắc nước ta, đặc biệt là bầu trời Hà Nội. Đối phó với những vũ khí hiện đại của Mỹ, ông cùng các nhà khoa học tiến hành cải tiến thành công nhiều vũ khí quan trọng như: dàn hỏa tiễn Cachiusa do Liên Xô viện trợ cho ta từ nặng, cồng kềnh, phải có xe kéo, thành gọn nhẹ, từng người có thể mang vác, phù hợp với chiến trường chiến tranh du kích của Việt Nam mà vẫn đảm bảo công năng; cải tiến độ nổ phân mảnh của đầu đạn tên lửa SAM-2; tìm ra kỹ thuật khắc phục thủ đoạn gây nhiễu của địch trên ra-đa để nhìn rõ hơn máy bay B52 và điều khiển tên lửa SAM-2 trúng mục tiêu,…
Bên cạnh đó, ông còn cùng các đồng nghiệp nghiên cứu, chế tạo ra nhiều loại vũ khí, khí tài đặc biệt phục vụ cho đánh tàu chiến của địch ở ngoài khơi như: vũ khí chống cá mập, tia hồng ngoại, ra-đa, siêu âm, thủy lôi… Trong thời kỳ này, ông luôn quan tâm đến ứng dụng các thành tựu của toán học trong lĩnh vực quân sự, do đó, ông đã cho dịch các tài liệu của Liên Xô về vấn đề này ra tiếng Việt để phổ biến trong quân đội và đích thân điều hành nhiều buổi thuyết trình về đề tài vận dụng toán học trong quốc phòng cho các sĩ quan quân đội ta.
Đặc biệt, để đối phó với máy bay B52, Trần Đại Nghĩa đã cùng các cộng sự nghiên cứu tìm ra kỹ thuật chống nhiễu của máy bay B52 đối với tên lửa SAM-2, cải tiến để nâng độ cao của tên lửa SAM-2, ngoài ra, còn nghiên cứu cách sử dụng một số loại vũ khí phòng không thông thường, biện pháp đơn giản như: dùng cao xạ 100 ly, pháo 100 ly, tên lửa chống nhiễu,… để bắn máy bay B52. Từ đó, nhiều máy bay B52 đã bị bắn rơi. Góp phần quan trọng buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris rút quân khỏi Việt Nam vào đầu năm 1973.
Trong những năm địch đánh phá ác liệt tuyến đường Trường Sơn, để thông đường cho các đoàn xe chở vũ khí, quân trang, lương thực, thực phẩm vào chiến trường miền Nam, ông cùng các nhà khoa học nghiên cứu ra nhiều biện pháp chống bom từ trường, chống bom bi, chống “cây nhiệt đới”, máy đếm, chống bom laser, mìn lá, lựu đạn vi điện tử,… Đặc biệt, là xe phóng từ trường từ xa ra đời đã chấm dứt tình trạng những đoàn xe vận tải chi viện chiến trường miền Nam bị phá hủy bởi bom từ trường của đối phương, bảo đảm bảo thông đường để xe vận chuyển được an toàn.
Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, trên cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, với trí tuệ bác học uyên thâm và kinh nghiệm thực tế từng trải qua chiến tranh thế giới thứ hai và kháng chiến chống thực dân Pháp, Trần Đại Nghĩa đã góp phần quan trọng chỉ đạo công tác kỹ thuật quân sự, một lĩnh vực quan trọng về sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Ông vừa là người thầy, cố vấn khoa học kỹ thuật đa năng, là chỗ dựa cho cán bộ kỹ thuật quân sự của quân đội ta trong cuộc đối đầu trí tuệ chống lại kỹ thuật chiến tranh hiện đại của đế quốc Mỹ, từ việc cải tiến vũ khí, khí tài của ta để nâng cao hiệu quả chiến đấu của bộ đội, đến việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật chống hàng rào điện tử McNamara, phá bom từ trường, rà phá ngư lôi, biện pháp chống nhiễu và đánh pháo đài bay B52… và cứ tiếp tục đóng góp tài năng và trí tuệ cho đất nước để tiến tới đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Bên cạnh đó, với tư duy của nhà khoa học, ông cùng đồng nghiệp nghiên cứu các loại sách, báo khoa học về vũ khí của Mỹ, tài liệu về ngân sách của Quốc hội Mỹ chi cho lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất vũ khí để tiến hành chiến tranh ở Việt Nam… từ đó, giúp quân đội chủ động đối phó với các loại vũ khí của Mỹ, giảm thiểu thương vong cho bộ đội và Nhân dân.
3. Trong quá trình kiến thiết, xây dựng đất nước
Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 20/5/1975, Chính phủ đã quyết định thành lập Viện Khoa học Việt Nam. Trần Đại Nghĩa khi này đang giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, được cử kiêm giữ chức vụ Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam. Và từ tháng 02/1977, ông thôi giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước để tập trung làm nhiệm vụ Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam.
Đầu năm 1977, Chính phủ đã điều động nhiều nhà khoa học quản lý từ nhiều cơ quan khác nhau về Viện Khoa học Việt Nam. Việc thành lập Ban lãnh đạo của Viện đánh dấu bước trưởng thành của Viện Khoa học Việt Nam, tạo cho Viện điều kiện mới để góp phần vào việc tập hợp lực lượng khoa học và xúc tiến công tác khoa học kỹ thuật, một bộ phận quan trọng trong công cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật ở nước ta.
Nhiệm vụ của Viện Khoa học Việt Nam là phấn đấu để trở thành Trung tâm nghiên cứu khoa học lớn của nước ta về khoa học tự nhiên và một số ngành khoa học kỹ thuật, đi sát phương hướng phát triển khoa học hiện đại của thế giới và những mục tiêu trước mắt, lâu dài của kế hoạch kinh tế quốc dân, phải làm cho công tác khoa học gắn liền với đời sống, sản xuất.
Dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng Trần Đại Nghĩa, toàn ban lãnh đạo đã tập trung bàn về phương hướng dài hạn phát triển Viện Khoa học Việt Nam trong 03 giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất, từ 1977 đến hết 1980 là bước hình thành các hướng chính, các tổ chức chính; Giai đoạn thứ hai, từ 1981 đến 1990 là giai đoạn phát triển và có đóng góp cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; Giai đoạn thứ ba, từ 1991 trở đi là giai đoạn tiên tiến, đạt tới một số thành tựu khoa học trình độ quốc tế.
Ngày 08/6/1978, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành lập Ban Cán sự Đảng Viện Khoa học Việt Nam do Trần Đại Nghĩa làm Bí thư. Ban lãnh đạo do ông gánh vác trách nhiệm xây dựng Viện Khoa học Việt Nam trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn về lực lượng cán bộ khoa học, cơ sở vật chất và kinh phí.
Vào đầu năm 1977, lực lượng cán bộ nghiên cứu của Viện chỉ khoảng 1.300 người làm việc trong khoảng 30 đơn vị trực thuộc Viện, rải rác khắp từ Bắc đến Nam. Viện trưởng Trần Đại Nghĩa luôn chú ý đến chất lượng cán bộ, cân đối giữa các loại kỹ sư, trung cấp, công nhân giỏi. Ông đã nêu lên 04 nguyên tắc để thành lập một đơn vị nghiên cứu mới: phải có nhiệm vụ rõ ràng; đề tài nghiên cứu; phải có cán bộ đầu ngành; phải có cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết. Đồng thời, ông cũng đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, đến việc xây dựng đội ngũ các nhà khoa học giỏi, các công nhân lành nghề. Ông luôn day dứt lo lắng vì lực lượng này còn quá mỏng, nếu sử dụng không đúng chỗ thì nhiều đề án nghiên cứu sẽ khó áp dụng vào thực tế sản xuất.
Năm 1979, Viện Khoa học Việt Nam được giao nhiệm vụ phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô để thực hiện chương trình khoa học cho chuyến bay vào vũ trụ của phi công Phạm Tuân và V.V Gorbatko. Viện trưởng Trần Đại Nghĩa cùng với Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu đã tích cực chuẩn bị cho chuyến bay này. Chương trình nghiên cứu khoa học của chuyến bay phối hợp Liên Xô - Việt Nam được chuẩn bị rất khẩn trương, toàn diện và thành công tốt đẹp. Thể hiện được sự cố gắng to lớn của các nhà khoa học Liên Xô và Việt Nam, trong đó có vai trò của đồng chí Trần Đại Nghĩa.
Dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng Trần Đại Nghĩa, cán bộ, công nhân viên chức của Viện đã nỗ lực vươn lên mạnh mẽ, vừa xây dựng lực lượng, vừa tiến hành nghiên cứu khoa học với mục đích đem khoa học phục vụ đời sống, sản xuất, quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Trong những năm 1977 - 1983, trong hoàn cảnh đất nước có nhiều khó khăn, dưới sự lãnh đạo của ông, các nhà khoa học ở Viện Khoa học Việt Nam đã phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, có những định hướng rõ ràng cho hoạt động của mình. Vị trí của Viện được khẳng định trong giới khoa học ở trong và ngoài nước.
III. GIÁO SƯ, VIỆN SĨ TRẦN ĐẠI NGHĨA - TẤM GƯƠNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
Không chỉ là một nhà khoa học uyên bác, Giáo sư, Viện sĩ, Trần Đại Nghĩa còn là một tấm gương sáng về lòng yêu nước và đạo đức cách mạng.
Từ khi còn là một cậu học trò ở Mỹ Tho, chứng kiến thấy cảnh đồng bào bị thực dân Pháp đàn áp dã man, lòng yêu nước, chí căm thù giặc Pháp đã nhen nhóm và được nuôi dưỡng trong lòng ông. Đây chính là động lực thôi thúc ông ra sức học tập, nghiên cứu, tìm cách chế tạo vũ khí phục vụ cho cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trong những năm du học ở Pháp, mặc dù bị cấm đoán, nhưng ông vẫn bí mật nghiên cứu, tích lũy kiến thức về chế tạo vũ khí để trở về phục vụ đất nước. Đến năm 1946, sau 11 năm học tập, nghiên cứu, ông đã ghi chép được hơn 30.000 trang tài liệu về vũ khí.
Tháng 9/1946, khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi về nước phục vụ kháng chiến, ông đã từ bỏ cuộc sống sung túc, đầy đủ ở Pháp, sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn, gian khổ trở về quê hương.
Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là một tấm gương về lối sống thanh bạch, giản dị, đồng cam cộng khổ cùng cán bộ, chiến sĩ đồng nghiệp và nhân dân, cống hiến sức lực, trí tuệ cho ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong bài “Trần Đại Nghĩa” đăng trên Báo Nhân dân số ra ngày 12/6/1952, của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh C.B đã viết: “Là một đại trí thức, đi học ở Châu Âu đã nhiều năm, mang một lòng nhiệt tình về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến, đó là Anh hùng lao động trí óc Trần Đại Nghĩa… kỹ sư Nghĩa luôn luôn cố gắng làm đúng lời hứa: Khắc phục mọi khó khăn, đào tạo nhiều cán bộ, đưa những học thức rộng rãi ở Châu Âu áp dụng vào điều kiện eo hẹp của nước ta. Đồng chí rất giỏi về khoa học máy, nhưng lúc thực hành thì không “máy móc”. Kỹ sư Nghĩa đã có công to trong việc xây dựng quân giới, luôn luôn gần gũi, giúp đỡ, dạy bảo và học hỏi anh em công nhân, đã thắt chặt lý luận với thực hành” .
Ngưỡng mộ tài năng, đức độ của một nhà khoa học quân sự tài ba, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gọi Giáo sư Trần Đại Nghĩa là “Ông phật làm súng”. Giới khoa học quân sự, nhân dân Việt Nam và bạn bè đã mệnh danh Giáo sư là “Ông vua vũ khí”. Với những thành tích xuất sắc đạt được về khoa học quân sự trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tên tuổi của ông đã trở thành niềm tự hào của nhiều thế hệ người Việt Nam, nhận được sự cảm phục, kính trọng của bạn bè quốc tế.
Trong những năm tháng cuối đời, lúc nằm trên giường bệnh, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa vẫn một lòng hướng về Đảng và Bác Hồ kính yêu. Giáo sư nói: “Bác Hồ luôn là hình ảnh rất gần gũi với tôi. Bất cứ lúc nào tôi muốn gặp, nếu không bận, Bác sẵn sàng tiếp. Mãi cho đến bây giờ, Bác vẫn luôn vô cùng gần gũi và như vẫn còn sống trong tôi như ngày nào. Trong tâm khảm tôi, một bên là ba má và chị tôi, còn một bên là Bác Hồ”.
Cuộc đời hoạt động và sự nghiệp của nhà khoa học lớn, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là một tấm gương sáng về lòng yêu nước, về lý tưởng, sự cống hiến cho dân tộc và đạo đức cách mạng cho các thế hệ hôm nay, đặc biệt cho đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học học tập và noi theo.
IV. GIÁO SƯ, VIỆN SĨ TRẦN ĐẠI NGHĨA VỚI QUÊ HƯƠNG VĨNH LONG
Vùng đất Vĩnh Long địa linh nhân kiệt đã nuôi dưỡng và hun đúc nên một ý chí, một nhân cách lớn, một con người cao cả - Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa. Trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, trải qua một quá trình dài học tập, rèn luyện, tu dưỡng đã trở thành một nhà kỹ thuật quân sự lỗi lạc, một đại trí thức tài trí xuất chúng, tiêu biểu của giới trí thức cách mạng Việt Nam. Ông đã theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, của Bác Hồ, trở về nước để tham gia góp sức mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhắc đến ông mọi người không chỉ nói về tài năng mà còn nói đến đức độ, sự khiêm tốn và bình dị, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi là “Ông phật làm súng”.
Những lần Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa cùng gia đình về thăm quê, ông luôn bày tỏ tình cảm, tấm lòng của mình đối với quê hương, đối với dòng tộc. Trong tâm khảm ông luôn nhớ về ba má và người chị của mình. Bên cạnh đó, ông có các cuộc gặp gỡ, trao đổi với một số cán bộ lãnh đạo các ban, ngành tỉnh về việc quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ cho quê hương, cho đất nước.
Tổ quốc và Nhân dân mãi mãi ghi nhớ công lao và cống hiến to lớn của Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa, nhà khoa học anh hùng đã trọn đời vì đại nghĩa. Cả cuộc đời của ông là tấm gương sáng cho chúng ta, nhất là cho các thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên noi theo trên bước đường rèn đức, luyện tài, ý chí và tài năng phụng sự Tổ quốc, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang trên đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa, xây dựng đất nước giàu mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.
Để ghi nhớ công lao to lớn của đồng chí, nhiều công trình tại các đơn vị, địa phương trong cả nước đã được vinh dự mang tên đồng chí như: Phố Trần Đại Nghĩa ở Hà Nội, đường Trần Đại Nghĩa tại Thành phố Đà Nẵng, đường Trần Đại Nghĩa tại Thành phố Hồ Chí Minh… Tại Vĩnh Long, có các công trình như: đường Trần Đại Nghĩa (ở phường Phước Hậu, tỉnh Vĩnh Long); Trường Tiểu học Trần Đại Nghĩa (phường Phước Hậu, tỉnh Vĩnh Long) và Trường THPT Trần Đại Nghĩa (xã Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long); đặc biệt là Khu lưu niệm Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa với quy mô diện tích 16.526m2 tại ấp Mỹ Phú I, xã Tường Lộc, huyện Tam Bình (nay thuộc xã Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long), khánh thành đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của đồng chí. Đây là công trình mà Đảng bộ và Nhân dân Vĩnh Long tỏ lòng tri ân và ghi nhớ công lao của Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa - người con ưu tú quê hương Vĩnh Long, đồng thời, để giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau.